Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Người cộng sản mẫu mực, cả đời đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân
Nhân kỷ niệm 138 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2026), nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Người là hành trình bền bỉ của người cộng sản mẫu mực, cả đời đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Đặc biệt, hơn 35 năm gắn bó với công tác Mặt trận, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã có những đóng góp quan trọng trong xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ người thợ yêu nước đến người cộng sản kiên trung
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888, trong một gia đình nông dân ở Cù lao Ông Hổ, làng An Hòa, tổng Định Thành Hạ, hạt Long Xuyên, nay là tỉnh An Giang. Thân phụ là cụ Tôn Văn Đề và thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Dị, đều là những nông dân cần cù, hiền lành, chất phác. Ông là con trai đầu lòng, cùng một em trai và hai em gái. Thời thơ ấu, được gia đình cho học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Truyền thống quê hương và những tấm gương anh dũng chống thực dân Pháp của nghĩa quân Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Đốc Binh Kiều... đã in sâu trong tâm hồn Tôn Đức Thắng, thắp lên trong lòng cậu học trò những dự định lớn lao.

Năm 1907, ở tuổi 19, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn, bắt đầu cuộc đời người thợ trong bối cảnh giai cấp công nhân Việt Nam đang từng bước hình thành. Từng làm việc tại các garage, depot tư nhân, sau đó tại Xưởng Krupp thuộc Sở Kiến trúc cầu đường và nhà cửa Sài Gòn, ông trực tiếp chứng kiến sự áp bức, bóc lột của thực dân, tư bản. Từ đó, sớm nhận thức được sức mạnh của giai cấp công nhân và tích cực tham gia các phong trào đấu tranh.
Trong thời gian học tại Trường Bá nghệ, từ tháng 3/1915 đến tháng 9/1916, ông đã thể hiện rõ tinh thần bênh vực người yếu thế, gắn bó với công nhân, tổ chức đấu tranh chống bất công. Khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng được hình thành và tôi luyện từ chính những năm tháng tuổi trẻ ấy.
Tháng 9/1916, bị chính quyền thuộc địa bắt đi lính thợ sang Pháp và làm việc trên chiến hạm France. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, ông sớm thể hiện sự đồng tình, ủng hộ Nhà nước Xô Viết. Ngày 20/4/1919, trên Biển Đen, ông cùng những người bạn tổ chức kéo cờ đỏ trên chiến hạm France để phản đối cuộc chiến tranh của thực dân Pháp chống nước Nga Xô Viết. Đây là một trong những hành động tiêu biểu thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam.
Trở về nước, năm 1920, người thanh niên Tôn Đức Thắng tổ chức và lãnh đạo Công hội bí mật, tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam, xây dựng cơ sở tại Cảng Sài Gòn, Xưởng Ba Son, Xưởng FACI, Nhà máy đèn Sài Gòn, Nhà máy đèn Chợ Quán và từng bước phát triển ra nhiều cơ sở khác. Năm 1927, ông được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tích cực giác ngộ công nhân, phát triển tổ chức cách mạng ở Nam Bộ.
Một dấu ấn đặc biệt trong hoạt động của Tôn Đức Thắng, là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son năm 1925. Từ ngày 5/8/1925 - 28/11/1925, ông lãnh đạo công nhân tổ chức bãi công, gắn phong trào công nhân Việt Nam với việc ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân và thủy thủ Trung Quốc.
Ngày 28/7/1929, ông bị thực dân Pháp bắt. Một năm sau, ông bị đưa ra Côn Đảo và bị giam cầm cho đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 17 năm bị địch giam cầm, trong đó, 16 năm ở Côn Đảo, không khuất phục được ý chí của người cộng sản. Trái lại, nhà tù thực dân trở thành trường học cách mạng, nơi ông cùng các thành viên chủ chốt vận động thành lập Hội những người tù đỏ, tham gia xây dựng chi bộ đầu tiên ở Côn Đảo và duy trì hoạt động tuyên truyền, giáo dục cách mạng.

Suốt đời cống hiến, vun đắp khối đại đoàn kết
Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một chặng đường mới trong cuộc đời hoạt động của Tôn Đức Thắng. Theo dõi tình hình và nắm bắt thời cơ, ông cùng các đảng viên trong Đảng ủy Côn Đảo tổ chức giành chính quyền bằng biện pháp hòa bình trên đảo. Ngày 23/9/1945, ông cùng 1.800 tù chính trị từ Côn Đảo trở về đất liền, tiếp tục tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng.
Ngày 15/10/1945, tại Hội nghị cán bộ Đoàn xứ Nam Kỳ, ông được bầu vào Xứ ủy, được phân công phụ trách Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam Bộ. Tháng 12/1945, ông được giao nhiệm vụ tổ chức hậu cần cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Tại cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I. Tháng 2/1946, ông được điều động ra Hà Nội cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt, được thành lập. Tôn Đức Thắng được cử làm Phó Hội trưởng. Từ đây, sự nghiệp cách mạng của ông gắn bó sâu sắc với công tác mặt trận và nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm 1948, ông cùng Ban vận động thống nhất Việt Minh - Liên Việt tích cực chuẩn bị các điều kiện để thống nhất hai tổ chức mặt trận. Từ ngày 3 đến 7/3/1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt diễn ra tại Việt Bắc. Đại hội thống nhất hai tổ chức thành Mặt trận Liên Việt và cử Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch.
Trên cương vị người đứng đầu Mặt trận Liên Việt giai đoạn 1950 - 1955, ông cùng Trung ương Mặt trận củng cố khối đại đoàn kết, huy động sức mạnh toàn dân phục vụ kháng chiến, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

hoan nghênh chiến thắng đầu Xuân của quân và dân miền Nam (01/02/1968). Ảnh: TTXVN
Sau Hiệp định Genève, yêu cầu lịch sử đặt ra nhiệm vụ tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong một hình thức Mặt trận mới. Từ ngày 5 đến 10/9/1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội, quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và cử Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Tháng 2/1977, Đại hội thống nhất ba tổ chức Mặt trận thành MTTQ Việt Nam suy tôn Tôn Đức Thắng là Chủ tịch danh dự MTTQ Việt Nam. Đây cũng là dấu mốc ghi nhận những đóng góp bền bỉ của ông đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Dành nhiều tâm huyết tập hợp các tầng lớp Nhân dân, nhân sĩ, trí thức, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào; động viên mọi nguồn lực phục vụ khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, chống chiến tranh phá hoại, chi viện cho miền Nam, góp phần vào sự nghiệp thống nhất đất nước.
Không chỉ có những đóng góp đặc biệt trong công tác Mặt trận, Tôn Đức Thắng còn đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước: Năm 1955, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội; năm 1960, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; năm 1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, ông trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở bất kỳ cương vị nào, ông vẫn giữ phong cách giản dị, gần gũi, khiêm nhường, đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết, đồng thời, luôn coi trọng việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đối với sự nghiệp hòa bình và đoàn kết quốc tế, Chủ tịch Tôn Đức Thắng giữ cương vị Chủ tịch danh dự Ủy ban bảo vệ Hòa bình thế giới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới và Chủ tịch Hội Việt - Xô hữu nghị. Với những đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, ngày 9/12/1955, ông được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Stalin của Liên Xô trao tặng Giải thưởng Stalin “Về sự nghiệp củng cố hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc”. Năm 1967, ông được trao tặng Huân chương Lênin, ghi nhận những đóng góp đối với tình hữu nghị Việt - Xô.

Ngày 30/3/1980, Chủ tịch Tôn Đức Thắng qua đời, hưởng thọ 92 tuổi, khép lại cuộc đời cách mạng đầy gian khổ nhưng cũng vô cùng vẻ vang. 92 năm tuổi đời, gần một thế kỷ hoạt động cách mạng và đứng trong hàng ngũ của Đảng, ông đã kinh qua nhiều vị trí quan trọng nhưng nhất quán ở một điểm: Suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, hết lòng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng về bản lĩnh, lòng trung thành, đức khiêm nhường, tinh thần đoàn kết và ý chí phụng sự Nhân dân. Từ những cuộc đấu tranh của người công nhân Ba Son đến những năm tháng tù đày ở Côn Đảo; từ vai trò người lãnh đạo Mặt trận đến cương vị Chủ tịch nước, dù ở vị trí nào Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng để lại di sản quý giá về niềm tin vào Nhân dân và sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Di sản ấy vẫn mang nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân về một chân lý giản dị mà sâu sắc về lòng dân đồng thuận, toàn dân đoàn kết một lòng, sức mạnh ấy có thể vượt qua mọi thử thách, đưa đất nước tiến lên.
Nguồn: Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Ý kiến bạn đọc (0)
Chưa có ý kiến nào